NHỮNG TRƯỜNG HỢP TÒA ÁN TRẢ HỒ SƠ KHỞI KIỆN

Lượt xem: 119

Quyền khởi kiện là một trong số những quyền cơ bản của mỗi công dân. Dù vậy không phải trường hợp nào khởi kiện cũng được Tòa án chấp nhận ngay. Một số trường hợp Tòa án trả lại hồ sơ khởi kiện, các lý do đó là:

1/ Người khởi kiện không có quyền hoặc không đủ năng lực hành vi

Điều 2 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, người khởi kiện không có quyền khởi kiện được hiểu là:

– Người khởi kiện không khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức mà mình là người đại diện hợp pháp.

– Người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

2/ Hết thời hạn quy định mà không nộp biên lai tạm ứng án phí

Theo quy định tại khoản 2 Điều 195 Bộ luật Dân sự 2015, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Nếu hết thời hạn nêu trên mà cá nhân, tổ chức khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Tòa án có quyền trả lại đơn trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.

3/ Đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật

Các vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì Tòa án sẽ trả lại đơn ngoại trừ các trường hợp được khởi kiện lại như:

– Ly hôn

– Thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng

– Mức bồi thường thiệt hại

– Thay đổi người quản lý tài sản, di sản

– Thay đổi người giám hộ

– Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ.

4/ Chưa đủ điều kiện khởi kiện

Trong một số trường hợp cụ thể, pháp luật quy định cá nhân, tổ chức phải thỏa mãn được một hoặc một số điều kiện thì mới được khởi kiện. Khi chưa thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện này thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.

Ví dụ theo Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP:

Công ty A cho người lao động B đi học nghề 01 năm với điều kiện B phải làm việc cho A ít nhất 05 năm kể từ khi học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong, B chỉ làm có 02 năm thì nghỉ. A khởi kiện B ra Tòa mà không thông qua thủ tục hòa giải. Trong khi đó, tại Điều 201 Bộ luật Lao động 2012, Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì A chưa đủ điều kiện khởi kiện.

5/ Không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Theo Điều 4 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, những vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là những tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết. Như vậy trong trường hợp này cá nhân, cơ quan nộp đơn khởi kiện ra Tòa án sẽ bị Tòa bác bỏ đơn khởi kiện.

6/ Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu

Theo đó, về hình thức, đơn khởi kiện phải có các nội dung:

– Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

– Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

– Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Do đó, khi đơn khởi kiện được yêu cầu bổ sung, sửa đổi nhưng người khởi kiện không thực hiện thì Tòa được quyền trả lại đơn.

7/ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện

Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện về thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo.

Khi trả lại đơn, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn, gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Ngoài ra, đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo phải được sao chụp và lưu tại Tòa để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

luathungphuc.vn

Bình luận

Bài viết mới nhất

Có thể bạn quan tâm