TẠM HOÃN XUẤT CẢNH ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.

Lượt xem: 385

TẠM HOÃN XUẤT CẢNH ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.

Trong quá trình hội nhập, càng ngày có càng nhiều tổ chức, cá nhân, nước ngoài đến làm việc, đầu tư, kinh doanh và cư trú tại Việt Nam; số lượng các cá nhân, tổ chức người Việt Nam ra nước ngoài học tập, lao động, sinh sống cũng ngày một gia tăng theo thời gian. Điều này đã làm phát sinh các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động của người nước ngoài tại Việt Nam cũng như của người Việt Nam ở nước ngoài.

Khi tranh chấp xảy ra, đã được Tòa án có thẩm quyền tuyên bằng một bản án có hiệu lực. Việc thi hành án đối với người thi hành án là người nước ngoài tại Việt Nam và người Việt Nam tại nước ngoài đang gặp vấn đề vô cùng khó khăn. Do vậy, khi người phải thi hành án (người Việt Nam, người nước ngoài) xuất cảnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc tổ chức thi hành án. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, việc thực hiện tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đại diện cơ quan tổ chức đang gặp vấn đề vướng mắc khó giải quyết.

Vấn đề tạm hoãn xuất cảnh của người phải thi hành án được quy định rất rõ ràng tại các văn bản pháp luật. Cụ thể, Điều 28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam quy định về các trường hợp có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trong đó người nước ngoài đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ đối với bản án.

Cùng văn bản trên, theo quy định tại Điều 29 về thẩm quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh đó là Thủ trưởng cơ quan THADS trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định tạm hoãn xuất cảnh trong những trường hợp quy định khi cần thiết để đảm bảo việc thi hành.

Người có thẩm quyền ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh thì có thẩm quyền gia hạn tạm hoãn xuất cảnh, giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Người ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh có trách nhiệm ra quyết định hủy bỏ việc tạm hoãn xuất cảnh ngay sau khi người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.

Tuy nhiên, đối với trường hợp người phải thi hành án là người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức thì việc áp dụng quy định về tạm hoãn xuất cảnh lại càng khó khắn hơn. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về tạm hoãn xuất cảnh đối với người địa diện theo pháp luật của một tổ chức là người phải thi hành án vẫn còn một số vướng mắc.

Trong khi đó, tại Điều 51 Nghị định số 62/2015/ NĐ-CP của Chính phủ quy định về hướng dẫn Luật Thi hành án được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP có quy định về các trường hợp người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản là đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức.

Ngoài ra, trong trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, việc tạm hoãn xuất cảnh cũng gặp khó khăn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thi hành án. Cụ thể trong trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi người đại diện theo pháp luật nhưng chỉ thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh mà không thông báo cho Cơ quan THADS được biết để thay đổi quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Như vậy, Cơ quan THADS luôn đi sau các Cơ quan, tổ chức về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của mình.

Để thuận lợi hơn cho công tác THADS, cũng như tính cấp thiết cho việc thi hành án, cần bổ sung quy định trong trường hợp doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức là người phải thi hành án thì phải thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật cho cơ quan THADS ngay từ khi bắt đầu đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tế rất khi khi các cơ quan tổ chức thay đổi người đại diện theo pháp luật thông báo cho cơ quan THADS.

Xem thêm:

luathungphuc.vn

Bình luận

Bài viết mới nhất