THỦ TỤC KHIẾU NẠI TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Lượt xem: 290

Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự | hinhsu.luatviet.co

Khiếu nại trong tố tụng dân sự là gì?

Theo khoản 1 Điều 499 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Căn cứ theo quy định trên, khiếu nại trong tố tụng dân sự là việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân, theo thủ tục quy định của pháp luật tố tụng dân sự, có quyền đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi trong hoạt động tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về thời hiệu khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

Thời hiệu khiếu nại kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật, thời hiệu khiếu nại là 15 ngày. Thời hạn khiếu nại không có gì thay đổi từ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành. Ở đây chúng ta cần chú ý “biết được” đó là trong trường hợp người khiếu nại không nhận được quyết định tố tụng nhưng họ biết được quyết định tố tụng, hành vi tố tụng đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ nên làm đơn khiếu nại. Hoặc trong trường hợp, thời hiệu khiếu nại được tính từ ngày người khiếu nại nhận được thông báo có chuyển phát bảo đảm.

Trong trường hợp người khiếu nại không nhận bất kỳ thông tin gì nhưng họ được biết quyết định tố tụng, hành vi tố tụng là trái quy định thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thu thập tài liệu xác định thời điểm người khiếu nại biết được quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trái pháp luật, để xác định thời hiệu khiếu nại.

Nếu quá thời hiệu 15 ngày nhưng người khiếu nại có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại, thì thời giạn có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Về thời hạn giải quyết khiếu nại: BLTTDS năm 2015 quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được khiếu nại. Trong thời hạn trên, cơ quan có thẩm quyền xem xét về nội dung khiếu nại và sẽ ra thông báo thụ lý khiếu nại trong trường hợp có đầy đủ căn cứ. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày.

Về hình thức khiếu nại:

Hình thức khiếu nại được quy định tại điều 503 BLTTDS“ Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn. Trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.”

Bộ luật Tố Tụng Dân Sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 không quy định rõ, do vậy để tránh tình trạng người khiếu nại không làm đơn khiếu nại, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành đã quy định chi tiết hơn về nội dung này. Đối với việc khiếu nại phải được thực hiện bằng văn bản. Trong đơn khiếu nại phải có ghi rõ thời gian, thông tin của người khiếu nại; nội dung khiếu nại về vấn đề gì và khiếu nại tới cá nhân hay cơ quan có thẩm quyền nào để giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại:

Khiếu nại quyết định hành vi của Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký, Hội thẩm nhân dân do Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp giải quyết. Khiếu nại quyết định, hành vi của Chánh do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết.

Về thủ tục giải quyết khiếu nại:

Sau khi tiến hành thụ lý đơn khiếu nại, Tòa án tiến hành giải quyết khiếu nại, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu kèm theo. Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng năm làm đơn; họ tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 là bao lâu. Đây có thể là tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 có đủ thời gian nghiên cứu giải quyết chính xác, đúng pháp luật. Việc không quy định thời hiệu cũng có thể dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền giữ hồ sơ, không tiến hành việc giải quyết khiếu nại, quá trình giải quyết có thể không biết đến bao giờ mới kết thúc.

Ngoài thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định trên, thì Bộ luật Tố tụng dân sự còn có những quy định khác về việc khiếu nại, cụ thể như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2  Điều 499 “…Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành TTDS ban hành nếu có khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của chương này mà được giải quyết theo quy định của các chương tương ứng của bộ luật này”.

Thứ hai, quy định Điều 508 BLTTDS: “Việc giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định trong TTDS được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và pháp luật có liên quan”.

Thứ ba, về việc khiếu nại trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể về thời hạn, trình tự thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại khác với việc giải quyết đơn khiếu nại theo quy định tại chương XLI. Quy định cụ thể tại điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

 

Luathungphuc.vn

Bình luận

Bài viết mới nhất

Có thể bạn quan tâm