BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VƯỢT QUÁ YÊU CẦU CỦA TÌNH THẾ CẤP THIẾT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Lượt xem: 458

Theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại trong tình thế đó gây ra. Trường hợp nếu thiệt hại vượt quá tình thế cấp thiết thì cần phải bồi thường. Như vậy câu hỏi đặt ra rằng, nếu tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra thì ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ thể có phần lợi ích bị thiệt hại? Luật Hùng Phúc xin chia sẻ một số ý kiến về “ Bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết ”.

  1. Quy định của BLDS 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết

Khái niệm tình thế cấp thiết được quy định tại Điều 171 của BLDS 2015: “Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.”

Như vậy, theo quy định trên để được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, phải có nguy cơ đang thực tế đe dọa cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Nguồn gốc gây nên sự nguy hiểm đối với lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ có thể là do: hành vi nguy hiểm của con người, tác động của thiên nhiên (lũ, lụt, cháy, sét đánh v.v…). Tuy nhiên, trong trường hợp này nguy cơ gây thiệt hại chưa xảy ra. Do đó, người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán, dự đoán được về mối nguy hiểm ngay tức khắc thì mới được coi là trong trường hợp tình thế cấp thiết. Nếu hành động gây thiệt hại chỉ là suy đoán chủ quan của người gây thiệt hại thực tế có thể xảy ra hoặc không hoặc người gây thiệt hại hành động trước khi nguy cơ gây thiệt hại xảy ra thì không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết.

Thứ hai, sự đe dọa gây thiệt hại “đang thực tế đe dọa trực tiếp” đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Điều này có nghĩa rằng mối nguy hại này phải có thật, đang xảy ra và chưa kết thúc. Mối quan hệ nhân quả giữa mối nguy hại này với lợi ích cần bảo vệ phải tồn tại, nếu không có hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thì hậu quả là tất yếu. Sự nguy hiểm dù mới đe dọa nhưng có thật và tồn tại khách quan không dựa trên ý chí chủ quan của người gây thiệt hại thì mới được coi là tình thế cấp thiết.

Thứ ba, việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là biện pháp duy nhất để khắc phục nguy cơ đó. Trong điều kiện nguy cơ gây thiệt hại đang xảy ra và đe dọa cần phải có phương án giải quyết ngay tức khắc thì phương án gây thiệt hại phải là biện pháp duy nhất hay biện pháp tối ưu nhất. Người gây ra thiệt hại không có biện pháp nào khác hay phương án giải quyết nào tối ưu hơn nhằm ngăn nguy cơ đó xảy ra. Nếu như tồn tại biện pháp giải quyết tối ưu hơn thì đó không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết.

Thứ tư, thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Khi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết bản thân người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán giữa thiệt hại mà mình sắp gây ra và hậu quả có thể xảy ra cho đối tượng mà mình sắp bảo vệ khi có nguy cơ đe dọa gây thiệt hại. Do đó, chỉ được coi là thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thiệt hại  xảy ra nhỏ hơn với thiệt hại cần ngăn ngừa.

Như vậy, nếu như vi phạm một trong bốn điều kiện trên thì chủ thể gây thiệt hại không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết. Cũng có nghĩa rằng chủ thể gây thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định. Đồng thời tại khoản 1 Điều 595 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.” Theo quy định trên, thì chủ thể gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần vượt quá phần lợi ích cần hy sinh để bảo vệ phần lợi ích lớn hơn. Phần lợi ích cần hy sinh thuộc trách nhiệm bồi thường của chủ thể đã gây ra tình thế cấp thiết. Tại khoản 2 Điều 595 BLDS 2015 cũng quy định: “Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Chủ thể phải chịu trách nhiệm trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là người gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra. Thông thường thiệt  hại xảy ra không dễ dàng so sánh mang tính  định lượng để biết chính xác thiệt hại nào lớn hơn hay nhỏ hơn. Tuy nhiên, cần phải đánh giá về mức độ gây thiệt hại mới có thể miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể gây thiệt hại. Nếu như chủ thể gây thiệt hại lớn hơn so với lợi ích cần được bảo vệ thì biện pháp đó không còn đảm bảo  được tính cần thiết và không còn có ích. Chính vì vậy, để xác định một hành vi gây thiệt hại có phải thuộc tình thế cấp thiết hay không thì phải so sánh được giữa phần lợi ích được hy sinh và lợi ích được bảo vệ.

  1. Bất cập về quy định bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Như đã phân tích, trường hợp gây thiệt hại đáp ứng đủ yêu cầu của tình thế cấp thiết thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Khoản 3 Điều 171 BLDS 2015 cũng quy định: “Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật này.”

Như vậy, nếu như chủ thể có phần lợi ích bị hy sinh trong tình thế cấp thiết sẽ được bồi thường theo quy định tại Điều 595 BLDS 2015. Đồng thời tại khoản 2 Điều 595 quy định: “Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Theo đó, người đã gây ra tình thế cấp thiết thì phải  chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, nếu như trường hợp tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm cho chủ thể có phần lợi ích bị hy sinh. Tình thế cấp thiết có thể xảy ra trong trường hợp do các yếu tố khách quan như thiên tai, bão lũ, hạn  hán, động đất, sóng thần…. Như vậy trong các trường hợp đó không xác định được chủ thể gây ra tình thế cấp thiết thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Nghiễm nhiên, theo quy định pháp luật sẽ không có ai chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ thể phải hy sinh lợi ích. Trong khi đã hy sinh phần lợi ích nhỏ hơn để bảo vệ “lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác” nhưng lại không được bảo vệ trong trường hợp tình thế cấp thiết không do con người gây ra sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các chủ thể về việc được pháp luật bảo hộ quyền tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 3 BLDS 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”. Theo tác giả, để đảm bảo công bằng nên quy định theo hướng chủ thể có lợi ích được bảo vệ phải có trách nhiệm chịu một phần trách nhiệm bồi thường cho chủ thể có lợi ích bị hy sinh. Bởi lẽ, đây là sự cố do thiên nhiên gây ra, vì bảo lợi lợi ích cho chủ thể này nên phải hy sinh lợi lợi ích chủ thể khác nên chủ thể có lợi ích được bảo vệ có trách nhiệm chuyển giao một phần lợi ích cho chủ thể bị thiệt hại.

luathungphuc.vn

Bình luận

Bài viết mới nhất

Có thể bạn quan tâm