THỦ TỤC ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN KHI VỢ/CHỒNG LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CỐ TÌNH KHÔNG CUNG CẤP ĐỊA CHỈ NƠI CƯ TRÚ VÀ GIẤY TỜ TÙY THÂN

Lượt xem: 709
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: GIẢI QUYẾT THẾ NÀO KHI VỤ VIỆC CÓ BỊ ĐƠN LÀ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI NHƯNG KHÔNG RÕ ĐỊA CHỈ
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: GIẢI QUYẾT THẾ NÀO KHI VỤ VIỆC CÓ BỊ ĐƠN LÀ NGƯỜI  VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI NHƯNG KHÔNG RÕ ĐỊA CHỈ

Gần đây, Luật Hùng Phúc nhận được khá nhiều câu hỏi của Quý khách hàng xoay quanh vấn đề Ly hôn với vợ/chồng (kết hôn tại Việt Nam) khi một bên cố tình che giấu nơi cư trú và giấy tờ tùy thân. Trong khuôn khổ bài viết dưới đây, Luật Hùng Phúc xin tư vấn và giải đáp như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp ly hôn:

Do hai vợ chồng đã đăng ký kết hôn tại Việt Nam nên đây là cơ sở để Tòa Án Việt Nam giải quyết theo quy định khoản 1, Điều 469, Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015:
“1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:

…”
d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

…”
Ngoài ra, Điều 37 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

“ Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

  1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
  2. a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này; ”

“ Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

…”

Như vậy, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người yêu cầu ly hôn cư trú có thẩm quyền giải quyết.

Thứ hai, về việc xác định địa chỉ cư trú của bị đơn:

“ Điều 473. Yêu cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài

  1. Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự đó.

Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong thời hạn do Tòa án ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2. Trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trả lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài hoặc sau 06 tháng mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.”

Theo đó, trường hợp này nguyên đơn, người có yêu cầu ly hôn có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ cư trú của đương sự khi bị đơn cố tình giấu địa chỉ và nơi cư trú của mình ở nước ngoài.

Về việc có mặt tại Tòa, khi Tòa triệu tập lần hai mà bị đơn nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà bị đơn không đến tham dự phiên tòa thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, phiên tòa vẫn được tiến hành bình thường ( Căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ).

Thứ ba, về chi phí tố tụng:

Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp chận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp hai bên thuận tình ly hôn thì mỗi bên phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.

Ngoài ra, đương sự còn phải nộp thêm tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cụ thể:

“ Điều 151. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài

  1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền mà Tòa án tạm tính để chi trả cho việc ủy thác tư pháp khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.
  2. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp.”

Thứ tư, về thời gian tiến hành xét xử:

– Trong thời hạn 08 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và ra quyết định thụ lý vụ án nếu không thuộc trường hợp phải trả lại đơn, chuyển đơn cho Tòa án khác có thẩm quyền và sửa đổi đơn.

– Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng từ án phí.

– Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí và ra Thông báo nộp tạm ứng án phí giao cho người khởi kiện  để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể ngày nhận được Thông báo nộp án phí của Tòa án, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí

–  Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

– Thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng.

– Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp  người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn không có yêu cầu phản tố nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Như vậy, thời gian tiến hành tố tụng sẽ từ 05 đến 08 tháng.

Trên đây là một số ý kiến tư vấn của Luật sư, hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây khi Qúy khách cần tư vấn, hỗ trợ:

Địa chỉ: 89 Trần Phú, Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

Call – Zalo: 0979 80 1111

Hotline: 0211 388 1588

Gmail: vplshungphuc@gmail.com

Website: https://luathungphuc.vn/

Mọi thắc mắc cần giải đáp, Quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0979 80 1111 để được tư vấn chi tiết!

Bình luận

Bài viết mới nhất

Có thể bạn quan tâm