Trong thực tiễn thi hành án dân sự, không ít trường hợp người phải thi hành án cho rằng việc chậm thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án chỉ là quan hệ dân sự thông thường và sẽ không phát sinh hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi không chấp hành quyết định thi hành án có thể dẫn đến nhiều trách nhiệm pháp lý khác nhau như bị cưỡng chế thi hành án, buộc trả lãi chậm thi hành án, xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 45, 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án có thể bao gồm: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá; trừ vào thu nhập; kê biên, xử lý tài sản; thu giữ, xử lý giấy tờ có giá; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ hoặc buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Việc cưỡng chế chỉ dừng lại khi người phải thi hành án đã thi hành đủ nghĩa vụ án phí phải nộp.
Bên cạnh đó, đối với các khoản tiền phải thi hành án mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi hoặc bản án, quyết định của Tòa án có tuyên về lãi chậm thi hành án thì người phải thi hành án còn có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ. Nội dung này được hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, tiền lãi chậm thi hành án được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, tính từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Ngoài trách nhiệm dân sự nêu trên, hành vi trì hoãn, không chấp hành quyết định thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể, theo điểm c khoản 3 Điều 64 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, người có hành vi không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định hoặc trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền lên đến 5.000.000 đồng.
Đáng chú ý, trong trường hợp người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành nhưng cố ý không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà tiếp tục vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người phạm tội có thể đối mặt với mức hình phạt cao nhất lên đến 05 năm tù và có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Trong trường hợp người phải thi hành án thực sự gặp khó khăn về tài chính, pháp luật vẫn cho phép người phải thi hành án được quyền đề nghị cơ quan thi hành án xem xét hoãn
thi hành án hoặc tạo điều kiện thực hiện nghĩa vụ theo từng đợt nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Do đó, người phải thi hành án nên chủ động làm việc với cơ quan thi hành án dân sự, trình bày rõ hoàn cảnh thực tế, cung cấp tài liệu chứng minh khó khăn tài chính và thiện chí thực hiện nghĩa vụ để được xem xét, giải quyết phù hợp, tránh phát sinh các hậu quả pháp lý bất lợi.
Mọi thắc mắc cần giải đáp, Quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0979 80 1111 để được tư vấn chi tiết!
Công ty Luật TNHH Hùng Phúc

