Năm 2025 đánh dấu nhiều chuyển biến quan trọng trong đời sống chính trị – xã hội của Việt Nam, với hàng loạt quyết sách lớn, cải cách sâu rộng và các sự kiện mang tính bước ngoặt, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, quản trị nhà nước và đời sống người dân. Nhìn lại 10 sự kiện chính trị – xã hội nổi bật năm 2025 không chỉ giúp nhận diện những dấu ấn tiêu biểu của năm qua, mà còn cho thấy rõ định hướng phát triển của đất nước trong giai đoạn tiếp theo
1. Sắp xếp lại đơn vị hành chính
Năm 2025 chứng kiến quyết sách lịch sử với tầm nhìn chiến lược 100 năm về sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Từ 64 tỉnh, thành phố, sau sắp xếp, cả nước còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, không còn cấp huyện, số lượng đơn vị hành chính cấp xã giảm từ 10.035 xuống 3.321.
Ở Trung ương, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy cũng được triển khai quyết liệt với tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”. Sau sắp xếp, Chính phủ khóa XV còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ (giảm 5) và 5 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 3); Quốc hội, các cơ quan Đảng và Mặt trận Tổ quốc cũng được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, quyết định “sắp xếp lại giang sơn” là bước đi lịch sử có ý nghĩa chiến lược…, hướng tới hoàn thiện một nền hành chính quản trị hiện đại, kiến tạo, gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ, để mọi lợi ích thuộc về nhân dân.
2. Ban hành 7 nghị quyết định hình khung chiến lược đất nước
Bộ Chính trị ban hành đồng loạt 7 nghị quyết lớn trong năm, tạo thành khung chiến lược tổng thể cho phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là lần hiếm hoi các trụ cột chính sách được thiết kế và công bố theo cách đồng bộ, có tính hệ thống, bao trùm từ mô hình tăng trưởng đến an sinh xã hội.
Bảy nghị quyết được xây dựng như một hệ trụ cột liên thông. Nghị quyết 57 xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của tăng trưởng. Nghị quyết 59 định hình tư duy hội nhập chủ động, thích ứng. Nghị quyết 66 coi pháp luật là công cụ điều hành phát triển. Nghị quyết 68 khẳng định khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. “Bộ tứ nghị quyết” tạo thành bộ khung chi phối cách thức vận hành của nền kinh tế trong tương lai.
Ba nghị quyết còn lại đi trực diện vào các nền tảng dân sinh. Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng nhằm giảm rủi ro thiếu điện và biến động giá, tác động trực tiếp đến sản xuất, chi phí sinh hoạt. Nghị quyết 71 tập trung cải cách giáo dục, trong đó nổi bật là lộ trình miễn học phí cho học sinh trường công lập và nâng thu nhập, vị thế cho giáo viên. Nghị quyết 72 đặt lại trọng tâm chính sách y tế theo hướng phòng bệnh và an sinh hiểm y tế.
Việc ban hành bộ khung chiến lược diễn ra trong bối cảnh năng suất lao động và năng lực đổi mới còn hạn chế, trong khi dân số bắt đầu già hóa nhanh, khiến dư địa tăng trưởng theo cách cũ ngày càng thu hẹp. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ sau năm 2026, nhằm đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, các nghị quyết được thiết kế để thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trọng tâm là dịch chuyển từ phụ thuộc vào vốn và tài nguyên sang nền kinh tế dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với khu vực kinh tế tư nhân, chất lượng nguồn nhân lực và một xã hội khỏe mạnh.
Song hành với định hướng chiến lược là giai đoạn tăng tốc lập pháp chưa từng có. Chỉ trong hai kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 89 luật và 56 nghị quyết – khối lượng tương đương nhiều năm cộng lại. Việc tăng tốc hoàn thiện thể chế được xem là điều kiện cần để các nghị quyết lớn sớm đi vào thực tiễn.

3. Đại hội Đảng bộ các cấp, hướng tới đại hội XIV
Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị được sắp xếp, tinh gọn và tái cấu trúc, đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 không chỉ có ý nghĩa về kiện toàn tổ chức, mà còn đặt nền móng tư duy phát triển mới. Đến giữa tháng 10/2025, tất cả 34 tỉnh, thành phố trên cả nước tổ chức xong đại hội, công tác nhân sự được thực hiện đúng quy định.
Sau khi các tỉnh, thành phố tổ chức thành công đại hội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư triển khai nhiều quyết định về công tác cán bộ thực hiện chủ trương bố trí 100% bí thư tỉnh ủy, thành ủy không phải là người địa phương. Chủ trương này cũng được triển khai với chức danh chủ tịch UBND tỉnh.
Hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, thời gian qua, Đảng đã ban hành các nghị quyết chiến lược để phát triển khoa học-công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm an ninh năng lượng…
Cùng với đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc như: miễn giảm học phí, viện phí, xây dựng trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền, xóa nhà tạm…
4. Diễu binh 50 năm thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh
Năm 2025, người dân cả nước hướng về Đại lễ kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) và 80 năm Quốc khánh (2/9/1945- 2/9/2025). Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành sáng 30/4 tại TPHCM được tổ chức trọng thể, thành công tốt đẹp, khẳng định ý nghĩa và tầm vóc lịch sử to lớn của Đại thắng mùa Xuân 1975 trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Bốn tháng sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ở Thủ đô Hà Nội, Đại lễ Quốc khánh 2/9 được tổ chức trang nghiêm, rực rỡ, thấm đẫm niềm tự hào dân tộc. Lễ kỷ niệm với sự tham gia của 40.000 quân nhân và các tầng lớp nhân dân, cùng hệ thống radar, xe tăng, UAV, pháo binh hiện đại…
Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Hướng tới tương lai, Đảng ta đặt mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam là quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước nhân dân”.
5. Đối ngoại sôi động, giá trị chiến lược tăng cao
Năm 2025 được đánh giá là một trong những năm bất ổn nhất của thế giới kể từ sau đại dịch COVID-19. Trong bối cảnh ấy, giá trị chiến lược của Việt Nam tiếp tục được duy trì và nâng cao, thể hiện qua hoạt động đối ngoại sôi động và sự gia tăng quan tâm, hợp tác của các nước lớn.
Trong năm, Việt Nam thiết lập và nâng cấp khuôn khổ quan hệ với 17 quốc gia. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược trở lên với cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (LHQ) và hầu hết các nước ASEAN quan trọng.
Lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam triển khai 75 hoạt động đối ngoại, đón 22 đoàn cấp cao trong năm qua, ký kết hơn 330 văn kiện hợp tác.
Sự chủ động, tích cực tham gia và đóng góp xây dựng luật chơi quốc tế như định hướng của Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” thể hiện rõ nét qua việc Việt Nam tổ chức thành công Lễ mở ký Công ước chống tội phạm mạng của LHQ, Hội nghị P4G, Diễn đàn Tương lai ASEAN, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu, cũng như việc Việt Nam tiếp tục được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ với số phiếu cao.
6. GDP dự kiến vượt 8%, đạt 510 tỷ USD
Tăng trưởng GDP cả năm dự kiến vượt 8%, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh hàng đầu thế giới. Quy mô GDP lần đầu tiên vượt mốc 500 tỷ USD, ước đạt khoảng 510 tỷ USD, xếp thứ 32 toàn cầu. Thu nhập bình quân đầu người tiến gần ngưỡng 5.000 USD.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh, đặc biệt là việc Mỹ áp dụng các biện pháp thuế đối ứng trên diện rộng, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn ghi nhận kết quả kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước vượt 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới, với mức xuất siêu hơn 21 tỷ USD.
Thu hút đầu tư tiếp tục là điểm sáng khi vốn FDI đăng ký đạt khoảng 42-45 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay; vốn giải ngân ước 23-25 tỷ USD.
Song song với đó, giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh, góp phần kích hoạt các động lực tăng trưởng mới. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 2,47 triệu tỷ đồng, vượt hơn 25% dự toán. Kết quả đạt được tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng GDP 2 con số.
7. Hạ tầng giao thông mở đường phát triển
Năm 2025 ghi nhận làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn, trải rộng từ giao thông, năng lượng đến logistics và hạ tầng số. Hạ tầng không chỉ là lĩnh vực chi tiêu công, mà trở thành trụ cột điều tiết phát triển và phản ánh sự dịch chuyển trong cấu trúc nguồn lực của nền kinh tế.
Trong năm, cả nước khởi công và khánh thành hơn 560 dự án với tổng vốn đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn tư nhân chiếm gần 75%, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực ngoài nhà nước. Riêng đợt khởi công, khánh thành đồng loạt cuối năm, vốn xã hội hóa chiếm hơn 80%, trải dài từ giao thông, đô thị đến y tế, giáo dục và nhà ở xã hội.
Nhiều công trình trọng điểm được đưa vào khai thác hoặc cơ bản hoàn thành như cầu Rạch Miễu 2, các dự án mở rộng thủy điện Hòa Bình, Trị An, đường dây 500 kV Lào Cai – Vĩnh Yên, nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4, Trung tâm Dữ liệu Quốc gia.
Đến cuối năm, Việt Nam hoàn thành hơn 3.800 km cao tốc, vượt mục tiêu đề ra; trục Bắc – Nam cơ bản thông suốt từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Tính chung 5 năm qua, cả nước đã đưa vào khai thác 2.025 km cao tốc, gần gấp đôi tổng chiều dài cao tốc được xây dựng trong 20 năm trước nhiệm kỳ. Hàng không cũng tăng tốc với Long Thành chuẩn bị khai thác, các sân bay lớn mở rộng, những dự án mới bắt đầu triển khai.
Tuy vậy, giải ngân đầu tư công chậm, giải phóng mặt bằng tiếp tục là khâu khó, khiến nhiều dự án dù đủ vốn và thiết kế vẫn triển khai chậm. Sự thiếu đồng bộ sau đầu tư, từ trạm dừng nghỉ, đường kết nối, giao thông công cộng đến hạ tầng đô thị, đang làm giảm hiệu quả khai thác của không ít công trình.
8. Bỏ thuế khoán với hơn 5,2 triệu hộ kinh doanh
Năm qua, hộ kinh doanh trên cả nước đứng trước một thay đổi lớn về phương thức kê khai thuế khi chính sách thuế khoán chấm dứt. 5,2 triệu hộ sẽ chuyển sang kê khai và nộp thuế theo doanh thu thực tế từ năm 2026. Các hộ có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng đã buộc phải dùng hóa đơn điện tử từ giữa năm.
Thuế khoán nhiều năm qua giúp đơn giản hóa nghĩa vụ thuế song dần bộc lộ hạn chế khi thanh toán điện tử và kinh doanh trực tuyến phát triển mạnh. Mức khoán được cho là không phản ánh sát doanh thu thực tế, gây thất thu ngân sách và tạo ra sự chênh lệch nghĩa vụ thuế giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Việc bỏ thuế khoán vì vậy được đặt trong mục tiêu mở rộng quản lý theo nguyên tắc “tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm”.
Thay đổi này mở rộng cơ sở thuế và tạo điều kiện để chuẩn hóa dữ liệu kinh doanh cá thể, qua đó hỗ trợ hoạch định chính sách và quản lý kinh tế. Về dài hạn, đây được xem là một mắt xích trong lộ trình phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp siêu nhỏ, phù hợp với mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi đặt ra không ít thách thức bởi đây là khu vực tạo ra khoảng 8-9 triệu việc làm, đóng vai trò “xương sống” của kinh tế địa phương và sinh kế của hàng triệu gia đình.
Nhiều hộ kinh doanh quen ghi chép thủ công, quy mô rất nhỏ hoặc thu nhập bấp bênh nguy cơ bị “sốc chính sách”. Để giảm áp lực, Quốc hội đã nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh lên 500 triệu đồng mỗi năm, gấp năm lần mức cũ, đồng thời đẩy mạnh số hóa quản lý thuế và đơn giản hóa thủ tục.
Trong dòng chảy cải cách năm 2025, việc bỏ thuế khoán không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh mong muốn tái cấu trúc khu vực kinh doanh cá thể theo hướng minh bạch và bền vững hơn. Hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc lớn vào cách triển khai, hỗ trợ và khả năng đồng hành cùng người kinh doanh trong giai đoạn chuyển tiếp.
9. Công bố 11 nhóm công nghệ chiến lược
Một bước đi quan trọng trong định hướng phát triển khoa học – công nghệ được xác lập khi Việt Nam lần đầu công bố danh mục các công nghệ chiến lược ở cấp quốc gia. Việc xác định rõ những công nghệ và sản phẩm mang tính chiến lược được xem là nền tảng để tập trung nguồn lực, hướng tới làm chủ và từng bước tự chủ các lĩnh vực có tác động lớn đến kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng.
Động thái này cụ thể hóa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó công nghệ chiến lược được xác định là một trong những trọng tâm cốt lõi, cùng với thể chế, nhân lực, hạ tầng và dữ liệu. Trên cơ sở đó, ngày 12/6, Thủ tướng ban hành Quyết định 1131, lần đầu xác lập danh mục 11 nhóm công nghệ với 35 sản phẩm công nghệ chiến lược theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Danh mục bao gồm: trí tuệ nhân tạo, bản sao số, thực tế ảo, thực tế tăng cường; điện toán đám mây, điện toán lượng tử, dữ liệu lớn; blockchain; mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; chip bán dẫn; y – sinh học tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; đất hiếm, đại dương, lòng đất; an ninh mạng; hàng không; vũ trụ.
Ngay sau khi danh mục được công bố, cộng đồng khoa học và công nghệ trong nước có những chuyển động rõ rệt. Các viện nghiên cứu và trường đại học điều chỉnh ưu tiên đào tạo, nghiên cứu theo các nhóm công nghệ trọng tâm. Nhiều doanh nghiệp rà soát và mở rộng kế hoạch đầu tư vào các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, thiết bị bay không người lái, mạng di động thế hệ mới và blockchain, hướng tới mục tiêu làm chủ một số công nghệ quan trọng vào năm 2030.
Ở phía quản lý, việc xác định rõ công nghệ chiến lược được coi là bước khởi đầu để tạo điểm tham chiếu chung trong xây dựng chính sách và phân bổ nguồn lực. Một số công cụ thể chế và tài chính như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia được thiết kế các cơ chế ưu tiên riêng cho nhóm công nghệ này. Đến tháng 9, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục xác định 6 sản phẩm có thể ưu tiên phát triển ngay trong năm 2025.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, danh mục 11 nhóm công nghệ cùng 35 sản phẩm chiến lược đóng vai trò như một “bản đồ công nghệ”, giúp các chủ thể trong hệ thống có định hướng rõ ràng hơn cho đầu tư, đào tạo và nghiên cứu. Việc các ưu tiên này được chuyển hóa thành sản phẩm cụ thể trong thực tế sẽ là thước đo quan trọng cho tham vọng tự chủ công nghệ của Việt Nam đến năm 2030.
10. Miễn toàn bộ học phí cho học sinh cả nước
Năm 2025, Bộ Chính trị đã quyết định miễn học phí cho học sinh từ mầm non đến hết phổ thông công lập trên cả nước, thực hiện từ năm học 2025-2026. Đây là bước đi quan trọng nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, giảm gánh nặng tài chính cho các gia đình, đồng thời khẳng định giáo dục là quyền lợi cơ bản của mọi công dân.
Chính sách này không chỉ giúp hàng triệu học sinh được học tập thuận lợi hơn, mà còn tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần phát triển nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn mới.
Tại Lễ khai giảng năm học 2025-2026, Tổng bí thư Tô Lâm nhấn mạnh một trong những định hướng lớn cho ngành Giáo dục là đảm bảo tiếp cận bình đẳng trong giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí, không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau; ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn; tăng đầu tư trường lớp – dinh dưỡng học đường – đội ngũ thầy cô – hạ tầng số.
Theo Tổng bí thư, chúng ta đã thực hiện miễn học phí cho toàn bộ học sinh từ mầm non tới hết trung học phổ thông; một số địa phương đã hỗ trợ cung cấp bữa ăn trưa miễn phí cho các cháu học 2 buổi. Giáo dục không chỉ truyền thụ tri thức mà còn nuôi dưỡng nhân cách, thể chất, tâm hồn để hình thành lớp người “giỏi giang, nhân ái, kiên cường”, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Nhìn tổng thể, 10 sự kiện chính trị – xã hội nổi bật năm 2025 phản ánh rõ một năm bản lề với nhiều quyết sách chiến lược, cải cách mạnh mẽ và nỗ lực đồng bộ trong quản lý, điều hành đất nước. Những dấu ấn này không chỉ giải quyết các yêu cầu trước mắt, mà còn tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo, hướng tới một nền quản trị hiệu quả hơn, kinh tế tăng trưởng bền vững và đời sống xã hội ngày càng ổn định, tiến bộ.
Mọi thắc mắc cần giải đáp, Quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0979 80 1111 để được tư vấn chi tiết!
Công ty Luật TNHH Hùng Phúc

