Trong những năm gần đây, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và lan rộng trên nhiều lĩnh vực: từ hàng tiêu dùng, linh kiện điện tử, mỹ phẩm, quần áo cho đến vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất. Không ít cá nhân, hộ kinh doanh và thậm chí doanh nghiệp vì lợi nhuận trước mắt đã coi nhẹ rủi ro pháp lý, dẫn đến hậu quả bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án rất nặng.
Dưới góc nhìn của người hành nghề luật hình sự, bài viết này sẽ phân tích cụ thể các mức hình phạt theo Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đồng thời liên hệ các vụ án thực tế để giúp người dân, doanh nghiệp hiểu đúng, tránh sai, không đánh đổi tương lai chỉ vì lợi nhuận ngắn hạn.
1. Hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng giả được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại Khoản 7, Điều 3, Nghị định 98/2020/NĐ-CP, hàng giả được xác định như sau:
“7. “Hàng giả” gồm:
a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
c) Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;
d) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
e) Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.”
Sản xuất hàng giả việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.
Buôn bán hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông.

2. Các mức hình phạt của cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Bộ luật hình sự hiện hành:
Một quan niệm sai lầm khá phổ biến hiện nay là“Buôn bán hàng giả cùng lắm chỉ bị phạt hành chính.”. Thực tế, theo Điều 192 Bộ luật Hình sự, chỉ cần đủ một trong các điều kiện luật định, hành vi buôn bán hàng giả đã cấu thành tội phạm hình sự, kể cả khi:
- Giá trị hàng giả chưa đến 30 triệu đồng, nhưng
- Người vi phạm đã từng bị xử phạt hành chính hoặc đã có tiền án chưa được xóa về các hành vi liên quan đến kinh tế, thương mại.
Đây chính là “ranh giới nguy hiểm” mà rất nhiều tiểu thương, người bán hàng online, chủ cơ sở kinh doanh không lường trước được.
Căn cứ theo quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự, các mức hình phạt đối với cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:
– Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu thuộc các trường hợp sau:
- Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
– Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu thuộc các trường hợp sau:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Làm chết người;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
- Buôn bán qua biên giới;
- Tái phạm nguy hiểm.
– Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc các trường hợp sau:
- Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
- Làm chết 02 người trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;
- Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.”;
– Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp khi sản xuất, buôn bán hàng giả.
Một điểm rất đáng lưu ý của Bộ luật hình sự sửa đổi là Pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng giả. Mức xử phạt đối với doanh nghiệp có thể lên tới:
- 18 tỷ đồng tiền phạt;
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn;
- Bị cấm kinh doanh, cấm huy động vốn.
Thực tiễn cho thấy, đã có nhiều doanh nghiệp mất hoàn toàn thị trường và thương hiệu chỉ sau một vụ án hình sự liên quan đến hàng giả.
Qua quá trình tham gia bào chữa, tư vấn và giải quyết các vụ án hình sự về kinh tế, có thể rút ra một điểm chung rằng phần lớn người phạm tội không lường hết hậu quả pháp lý ngay từ đầu. Chỉ đến khi bị khởi tố, bị tạm giam, tài sản bị phong tỏa, hay hoạt động kinh doanh đình trệ thì người phạm tội mới ý thức được mức độ hành vi của mình là rất nguy hiểm.
Với kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết các vụ án hình sự, Luật Hùng Phúc không chỉ đồng hành xử lý vụ việc khi rủi ro đã phát sinh, mà còn tư vấn sớm để khách hàng không bước vào “vùng nguy hiểm” của pháp luật hình sự. Buôn bán hàng giả không phải là con đường làm giàu nhanh, mà rất có thể là con đường ngắn nhất dẫn tới vòng lao lý. Hiểu đúng pháp luật – hành xử đúng pháp luật – và tìm đến luật sư hình sự sớm chính là cách bảo vệ tốt nhất cho cá nhân và doanh nghiệp.
Mọi thắc mắc cần giải đáp, Quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0979 80 1111 để được tư vấn chi tiết!
Công ty Luật TNHH Hùng Phúc

