THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI?

Lượt xem: 47
Tranh chấp thương mại trong quá trình hợp tác kinh doanh là điều khó tránh khỏi, theo quy định của pháp luật, trong phạm vi bài viết luật sư giới thiệu thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tới quý tới quý bạn đọc như sau.
Thứ nhất: Giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Nếu các bên không có thỏa thuận về việc trọng tài là cơ quan giải quyết thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp này sẽ được xác định theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
“Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
  1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
  2. a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
  3. b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
  4. c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.
  5. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.”
“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
  1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
  2. a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
  3. b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
  4. c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
………………………………………”
Thứ hai: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Theo quy định tại Điều 2, Luật trọng tài thương mại 2010 thì Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài thương mại bao gồm:
“Điều 2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài
  1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
  2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
  3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”
Theo quy định tại Điều 5, Luật trọng tài thương mại 2010 đã quy định điều kiện giải quyết bằng Trọng tài như sau:
Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
  1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
  2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
  3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”
Theo quy định tại điều 16, luật Trọng tài thương mại 2010 thì:
“1. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
  1. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
  2. a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
  3. b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
  4. c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
  5. d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận”
Như vậy, khi có tranh chấp thương mại thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận về việc trọng tài là cơ quan giải quyết thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp này là Tòa án.
Căn cứ pháp lý:
– Luật Trọng tài thương mại năm 2010;
– Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

luathungphuc.vn

 

Bình luận

Bài viết mới nhất

Có thể bạn quan tâm